NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG
Hồ xuân hương Bà chúa thơ nôm, như cách gọi của Xuân Diệu, là một tác giả nổi tiếng trong lịch sử văn học trung đại nước ta. Thơ Hồ Xuân Hương được giảng dạy trong nhà trường phổ thông, hơn nữa thơ bà được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới như: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha và cả tiếng Hoa.
Gần đây , nhà học giả lão thành Hoàng Xuân Hãn, một Việt kiều có tâm huyết với văn hóa dân tộc, một tác giả của nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về Lí Thường Kiệt, về La Sơn Phu Tử, về lịch pháp dân tộc…đã cho công bố phát hiện mới của ông về Hồ Xuân Hương qua khảo chứng văn bản.
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn, Hồ Xuân Hương là con gái Hồ Phi Diễu, vốn quê gốc ở Quỳnh Lôi, tỉnh Nghệ An, sau đó chuyển sang sống ở Thăng Long và nữ sĩ được sinh ra chốn kinh kì. Vào khoảng từ năm 1770 đến 1772 dòng họ Hồ này được định cư ở nước ta từ đời Hậu Đường khoảng thế kỉ thứ IX ở Quỳnh Lưu , Nghệ An, một nhánh của họ này đi sâu về phía Nam lập nghiệp ở Bình Định, đổi từ họ Hồ sang họ Nguyễn , mà người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ-Quang Trung cũng thuộc hậu duệ đó.
Một điều lí thú là Hồ Xuân Hương lúc chưa đầy 20 tuổi đã gặp gỡ với thi hào Nguyễn Du ( 1765- 1820 ) hai tâm hồn thi sĩ, hai bậc tài ba trong thời thanh niên đã giao tình với nhau, đây gần như mối tình đầu của nữ sĩ họ Hồ. Dấu vết của mối tình hoa niên ấy theo nhà nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn có thể tìm thấy trong bài thơ chữ Hán nói về hoa sen, và cả trong truyện Kiều sau này với những câu thơ viết về Kim Trọng- Thúy Kiều, nhưng cũng là vang bóng hoài niệm của Nguyễn Du thời tuổi trẻ, để rồi : “ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng ”…
Với sự nghiệp thơ của Hồ xuân Hương, học giả Hoàng Xuân Hãn cho rằng tập Lưu Hương Kí bao gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ nôm với lời tựa của Tốn Phong một thầy đồ nghệ, có thời kì dạy học ở Thăng Long và cũng là một tình nhân của Hồ Xuân Hương là đáng tin cậy hơn những bài thơ nôm vẫn được truyền tụng coi như là của Bà, thực ra là những hồi do một người Pháp Antoni Laudes sưu tầm và thuê chép tại Hà Nội năm 1893 thiếu những căn cứ có thể xác minh thực hư.
Về nội dung của Lưu Hương Kí, có thể lấy ngay nhận định của Tốn Phong để thấy rằng trong các bài thơ ở tập này : “ Đầy vẻ gió trăng mây nước nhưng đều là từ đáy lòng phát ra, biểu hiện thành lời nói, và xuất phát từ mối tình mà dừng lại trên lễ nghĩa”. So sánh nội dung và phong cách của Lưu Hương Kí, học giả Hoàng Xuân Hãn đã bác bỏ những bài thơ thuộc dạng “ tục- thanh” vẫn được gán cho Hồ Xuân Hương, cả một số bài khác không thuộc loại này như bài “ Khóc ông phủ Vĩnh Tường” cũng không phải là của Hồ Xuân Hương .